Những
ca sĩ thuộc trường phái Duy Khánh
Những
người thường nghe nhạc có thể nhận
biết giọng ca của từng ca sĩ nhứt là
của ca sĩ mà ḿnh ưa thích.
Dĩ
nhiên có những ca sĩ có giọng ca riêng biệt không
giống bất cứ ca sĩ nào khác. Thí dụ giọng ca
của Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát
vượt thời gian”, của Thanh Thuư “tiếng hát liêu
trai”, của Giao Linh ”nữ hoàng sầu muộn” của
Phương Dung “nhạn trắng G̣ Công”…đều không có
bản sao. Tuy nhiên khi nghe Nguyên Khang hát người ta
nghĩ đến Tuấn Ngọc nên có thể nói trong
giới ca sĩ, người ta nhận thấy có những
giọng hát dược xếp vào cùng một trường
phái nào đó.
Có
thể nói trường phái có đông thành viên nhứt là
trường phái Duy Khánh. Những ca sĩ mà tôi xếp vào
trường phái này (xin lưu ư đây là nhận
định cá nhân của tôi) có giọng ca mang âm
hưởng đất Thần Kinh dù họ xuất thân
ở Huế hay không và khi họ cất tiếng hát lên
người ta nghĩ ngay đến ca sĩ Duy Khánh. Xin
liệt kê như dưới đây:
-Duy Khánh

Ca
nhạc sĩ Duy Khánh sinh ngày 1 tháng 6năm 1936 tại làng An
Cư, xă Triệu Phước, huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị (nay là xă Nam Cửa Việt), là con
áp út trong một gia đ́nh vọng tộc gốc thuộc
ḍng dơi Quận công Nguyễn Văn Tường, Phụ
chánh đại thần triều Nguyễn. Ḍng họ
Nguyễn này có vợ của Trung tướng Hoàng Xuân Lăm.
Năm
1952, Duy Khánh đoạt giải nhất cuộc thi
tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại
Huế với bài hát Trăng thanh b́nh. Sau
đó ông chuyển vào Sài G̣n để theo
đuổi nghề ca hát.
Vào Sài
G̣n, ông bắt đầu ghi âm đĩa nhựa và đi
diễn khắp nơi với nghệ danh Hoàng Thanh.
Ông trở thành một trong ba giọng nam
được yêu thích nhất, cùng với Duy Trác, Anh
Ngọc. Thời kỳ này tên tuổi của ông gắn
liền với những bài có âm hưởng dân ca và "dân
ca mới" của Phạm Duy: Vợ chồng
quê, Ngày trở về, Nhớ người thương binh,
T́nh nghèo, Quê nghèo, Về miền Trung... rồi
đổi nghệ danh là Duy Khánh. Chữ "Duy"
trong Phạm Duy, c̣n "Khánh" là tên một người
bạn thân của ông.
Ông
bắt đầu viết nhạc từ năm 1959,
nhạc ông thường nói về t́nh yêu quê hương,
mang hơi dân ca xứ Huế và được đón nhận
nồng nhiệt, ngay từ hai sáng tác đầu tay: Ai ra xứ Huế, Thương
về miền Trung.
Ngoài ra,
từ đầu thập niên 1960 cho đến năm 1975,
Duy Khánh c̣n lập nhóm chủ trương xuất bản
tờ nhạc mang tên 1001 Bài Ca Hay quy tụ
được nhiều tác phẩm của các nhạc
sĩ nổi tiếng thời điểm đó như
Trần Thiện Thanh, Nhật Ngân, Hoài Linh, Lam Phương,
Trúc Phương... Tờ nhạc do nhóm xuất bản
được giới mộ nhạc đánh giá cao v́ in
ronéo bản đẹp và minh họa công phu do chính Duy Khánh
chỉ đạo thực hiện.
Năm
1965, ông cùng với nữ danh ca Thái Thanh thu
thanh bản trường ca Con đường cái
quancủa Phạm Duy. Sau đó cả 2 người
cùng hát trường ca Mẹ Việt Nam. Cho
đến nay, 2 bản trường ca
này vẫn gắn liền với giọng hát Thái Thanh, Duy
Khánh.
Sau
sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Việt
Nam và bị cấm hát trong một thời gian dài, sau đó
thành lập đoàn nhạc Quê Hương, quy tụ
nhạc sĩ Châu Kỳ, Nhật Ngân, ca sĩ Ngọc Minh,
Nhă Phương, Bảo Yến,...
Sau khi
sang Hoa Kỳ vào năm 1988, ông hát độc quyền cho
Trung tâm Làng Văn, và xuất hiện trên một số cuốn
video của trung tâm Asia, sau đó, thành lập trung tâm
Trường Sơn tiếp tục ca hát và dạy nhạc
cho đến khi qua đời.
Ông
mất vào 12 giờ trưa ngày 12 tháng 2 năm 2003, tại
bệnh viện Fountain Valley, Quận Cam, California,
hưởng thọ 66 tuổi
Sáng tác
của Duy Khánh:
· Ai ra xứ Huế (1964)
· Anh lên rừng núi cao nguyên
· Anh về một
chiều mưa (1962)
· Bao giờ em quên (1963)
· Biết trả lời
sao (1965)
· Chuyện buồn ngày
xưa (1962)
· Đâu bóng người
xưa (1961)
· Đêm bơ vơ (1973)
· Đêm nao trăng sáng (1959)
· Điệu buồn chia
xa (1994)
· Đi từ đồng
ruộng bao la (1969)
· Đường trần
lá đổ
· Giă từ Đà Lạt (1964)
· Hát trên đỉnh đèo (1991)
· Hoài ca (1956)
· Huế đẹp
Huế thơ
· Lớp lớp phù sa (Trường ca)
· Lối về đất
mẹ (1965)
· Màu tím hoa sim (1964)
· Một lần trong
đời
· Mưa bay trong đời (1966)
· Mừng anh chiến
sĩ
· Mùa chia tay (1965)
· Nỗi buồn 20 (1967)
· Nỗi niềm riêng (1988)
· Nén hương yêu (1964)
· Ngày tháng đợi
chờ (1961)
· Ngày xưa lên năm lên ba (1974)
· Người anh giới
tuyến (1968)
· Ơi người
bạn Sài G̣n (1994)
· Sao không thấy anh về (1962)
· Sao đành bỏ quê
hương (1976)
· Sầu cố đô (1963)
· Thư về em gái thành
đô (1967)
· Thương về
miền Trung (1962)
· T́nh ca quê hương (1966)
· Trăm năm bến
cũ (1967)
· Trường cũ t́nh
xưa (1969)
· Vùng quê tương lai (1967)
· Xin anh giữ trọn t́nh
quê (1966)
-Chế Linh

Chế
Linh tên thật là Jamlen(Trà-len), tên Việt là Lưu
Văn Liên, sinh ngày 3 tháng 4 năm 1942 tại Paley Hamu
Tanran, gần Phan Rang (nay thuộc làng Hữu Đức, xă
Phước Hữu, tỉnh Khánh Ḥa).
Cha
mất sớm khi Chế Linh mới được 4
tuổi. Sau khi học hết bậc tiểu học
chương tŕnh Pháp ở trường làng và
được các linh mục Pháp trong trường
hướng dẫn về căn bản nhạc lư, Chế
Linh theo học tiếp bậc trung học tại
trường Bồ Đề Phan Rang.
Tháng 8
năm 1959, ông quyết định vào Sài G̣n một ḿnh Ông
làm việc cho một ông chủ người Việt
gốc Hoa rất tốt bụng – người này đă
giúp đỡ Chế Linh đi học và trả
lương rất hậu cho Chế Linh giúp việc trong
nhà như nấu ăn và coi con cho ông ta.
Năm
1962, đoàn văn nghệ Biệt Chính Biên Ḥa tuyển ca
sĩ theo đoàn đi hát trong các
miệt làng xa tại Biên Ḥa. Chế Linh đă theo đoàn này hát cùng với Châu Kỳ, Trúc
Phương v́ tiền lương rất nhiều. Hai
năm sau, đoàn văn nghệ tan ră, Chế Linh chuyển
sang làm tài xế chở đá tại núi Bửu Long (Biên Ḥa)
chung với nhạc sĩ Bằng Giang.
Vừa làm việc, vừa luyện giọng và viết
nhạc – t́nh yêu âm nhạc đă bắt đầu nảy
nở trong Chế Linh. Nhạc sĩ Bằng Giang là
người hiểu rơ ư định của Chế Linh nên
khi nhận thấy ông đủ sức đă khuyên ông theo nghề ca hát. Nhiều bài hát nổi
tiếng được ông cùng Bằng Giang sáng tác
như Bài ca kỷ niệm, Đêm
buồn tỉnh lẻ, Đoạn tái bút,... Khoảng một năm sau, Châu Kỳ và
Trúc Phương t́m ra chỗ ở của Chế Linh và
khuyên ông trở về Sài G̣n. Hai nhạc sĩ quyết
định sáng tác cho riêng Chế Linh những nhạc
phẩm về lính, không nhắm đặc biệt vào
một binh chủng nào và lời ca dễ hiểu.
Năm 1964,
Chế Linh hợp tác với hăng dĩa Continental cho ra
đời đĩa than đầu tay Vùng
biển trời và màu áo em và sau đó kư hợp
đồng với hăng Dĩa Hát Việt Nam.
Mặc
dù ca sĩ nữ song ca đầu tiên với ông là Thanh Tâm,
nhưng Thanh Tuyền mới là người song ca ăn ư nhất.
Khoảng 1967–1968, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đôngv́
muốn có sự thay đổi và nhất là tránh cho thính
giả nhàm chán với những nhạc phẩm đơn
ca nên ông đă đưa ra sáng kiến là để Thanh
Tuyền song ca với Chế Linh. Đĩa hát đầu
tiên trong đó có nhạc phẩm Hái hoa rừng cho
emcủa Trương Hoàng Xuân được tung ra thị trường và trở nên ăn
khách một cách không ngờ. Những hăng đĩa khác sau
đó đă tiếp tục khai thác cặp đôi song ca này.
Năm
1972, Chế Linh đoạt giải Kim Khánh – Huy
chương vàng đệ nhất hạng nam ca, do nhật
báo Trắng Đen tổ chức. V́ mùa hè
đỏ lửa 1972, Chế Linh bị Chính phủ
Việt Nam Cộng ḥacấm hát v́ lời hát không phù
hợp.
Sau
sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông bị chính quyền CS
bắt tại ga Sông Mao, Hải Ninh, Bắc B́nh (nay là xă
Hải Ninh, tỉnh Lâm Đồng) v́ tội ca nhạc
vàng. Sau 28 tháng biệt giam, ông vượt biên thành công sang
Malaysia, sau đó định cư tại Toronto, Canada.
Tại đây, ông mở vài cơ sở kinh doanh và tŕnh
diễn nhiều nơi có người Việt cư
ngụ.
Ngoài
việc ca hát, Chế Linh c̣n sáng tác nhạc và thường
lấy bút hiệu là Tú Nhi . Các bản
nhạc nổi tiếng của ông là:
.
Đêm buồn tỉnh lẻ (1962) viết chung
với nhạc sĩ Bằng Giang
. Bài ca
kỷ niệm (1962) cũng với Bằng Giang
.
Thương Hận (1966) với Hồ Đ́nh Phương
.
Lời kẻ đăng tŕnh (1968)
. Tâm
sự người thương binh (1969)
.
Đọn cuối t́nh yêu (1969)
. Mai
lỡ ḿnh xa nhau (1969)
. Khu
phố ngày xưa (1969)
.
Đoạn buồn cho tôi (1970)
. Hat cho
người t́nh phụ (1972)
…
So
với giọng ca của Duy Khánh, giọng của Chế
Linh “ nhựa” hơn.
-Giang Tử

Giang
Tử tên thật là Nguyễn Văn Giang (ông là
một tín hữu Công giáo Rôma, ông có tên thánh
là thánh Stêphan, sinh
ngày 1 tháng 2 năm 1944 tại Hải Pḥng. Tuy nhiên, có
nguồn cho rằng ông thực ra sinh năm 1942, cùng
tuổi với nghệ sỹ Thanh Nga. Ông có bố mẹ là
những người từ Thái Thụy, Thái B́nh di cư.
Khi lên 12 tuổi, Giang Tử được bố cho theo học hát với nhạc sĩ Y Vân.
Về sau, ông c̣n được ca sĩ Duy Trác hướng
dẫn về lĩnh vực ca hát. Ông là con cả trong gia
đ́nh có 8 anh chị em, bố mẹ là
thương gia.
Trong
những năm 1960 – 1970, Giang Tử nổi tiếng
với ḍng nhạc vàng. Năm 1968, ông nổi danh khi song ca
cùng ca sĩ Giáng Thunhạc phẩm Căn nhà màu tím của
nhạc sĩ Hoài Linh. Một số ca khúc khác gắn
liền với tên tuổi của Giang Tử là Chuyến
đi về sáng, Cô hàng xóm, Nhật kư đời tôi,...
Đầu
năm 2010, ông sang Hoa Kỳđịnh cư, tại đây
ông liên lạc với những người bạn cũ và
được ca sĩ Phương Hồng Quế
giới thiệu với các trung tâm ca nhạc ở đây.
Giang
Tử qua đời vào ngày 16 tháng 9 năm 2014 (giờ
địa phương) tại thành phố Houston, tiểu
bang Texas, Hoa Kỳ hưởng thọ 70 tuổi.
- Tuấn Vũ

Tuấn
Vũ tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh ngày
16 tháng 12 năm 1959 tại huyện Đức Linh, tỉnh
B́nh Thuận.
Năm
1979, ông sang Hoa Kỳ và định cư tại San Francisco.
Ông bắt đầu sự nghiệp ca hát từ
đầu những năm 1980 và nhanh chóng trở thành
một ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng. Tính đến
nay, ông đă thu âm hơn 1400 bài hát
thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Tuấn
Vũ từng chia sẻ rằng vào khoảng năm 1991, sau
một thời gian dài biểu diễn, ông nhận thấy
việc chỉ hát các bài nhạc có giai điệu trầm
buồn sẽ trở nên nhàm chán. V́ vậy, ông quyết
định thử nghiệm một điều ǵ đó
mới mẻ hơn.
Vào
thời điểm đó, các băng đĩa nhạc liên
khúc đang rất được khán giả yêu thích,
đặc biệt là Liên Khúc T́nh Yêu với sự góp
mặt của Ngọc Lan, Kiều Nga và Trung Hành, do trung tâm
Asiaphát hành. Tuấn Vũ đă hợp tác với hai
nhạc sĩ ḥa âm nổi tiếng lúc bấy giờ là Chí
Tài và Trúc Hồđể thực hiện Liên Khúc Tuấn
Vũ. Phần đầu tiên được ra mắt vào
năm 1991 trong cuốn CD Thúy Anh thứ 56, đồng
thời cũng là cuốn Tuấn Vũ thứ 12 do trung tâm
Thúy Anh phát hành. Chính v́ vậy, CD này
được đặt tên là Tuấn Vũ 12 – Liên Khúc
Tuấn Vũ. Sự thử nghiệm này đă gặt hái
được thành công vang dội, và Tuấn Vũ cùng
trung tâm Thúy Anh đă tiếp tục ra mắt thêm 4 CD liên
khúc nữa, tất cả đều nhận
được sự yêu mến nồng nhiệt từ
khán giả.[3]
Tiếng
hát của Tuấn Vũ, một thời là thần
tượng của thính giả trong nước Việt Nam
và cả ở hải ngoại, đă vang vọng khắp
nơi. Từ Sài G̣n ra Hà Nội, đâu đâu cũng nghe
văng vẳng giọng ca của ông. Những nhạc
phẩm như “Nỗi Buồn Sa
Mạc”, “Người Yêu Cô Đơn”, “Phượng
Buồn”... và vô số ca khúc khác do Tuấn Vũ tŕnh bày
đều được mọi người yêu thích.
Dù
sự yêu cầu được khán giả khắp nơi
đặt lên rất cao, Tuấn Vũ vẫn rất ít
xuất hiện trước công chúng trong những năm
sau này. Tuy nhiên, tiếng hát của ông đă trở thành
bất hủ đối với đông đảo
người nghe. Khán giả luôn chờ đợi sự
trở lại của ông, mong muốn được nghe
lại giọng hát có sức lôi cuốn kỳ diệu
ấy, nhưng Tuấn Vũ vẫn tiếp tục
vắng bóng. Trong khoảng thời gian từ 1985
đến 1991, tiếng hát Tuấn Vũ đă mang lại
lợi nhuận khổng lồ cho các trung tâm băng
nhạc như Giáng Ngọc, Đời, Phượng
Hoàng... Bất kỳ băng cassette hay đĩa CD nào có
Tuấn Vũ đều trở thành “hit lớn”.
Nhà
thơ Nguyên Sa đă tặng cho Tuấn Vũ danh hiệu
“Con Chim Phượng hoàng”, một danh hiệu xứng
đáng cho một giọng ca đă từng tung hoành trên
một tầm cao chói lọi.
Ông
vẫn tiếp tục hoạt động văn nghệ,
thường xuyên xuất hiện trong các chương tŕnh
của trung tâm Asia và trung tâm Thúy Nga.
-Trường
Vũ

Trường
Vũ tên thật là Huỳnh Văn Ngoảnh (黃文願), "Ngoảnh"
ở đây là phiên âm theo tiếng Triều Châu) của tên
"Nguyện" trong tiếng Việt, sinh ngày 25 tháng 2
năm 1963 tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Bạc
Liêu(nay là thị xă Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng). Ông là con
thứ 5 trong 6 người con của một gia đ́nh
người Tiều đă sang lập nghiệp tại
Việt Nam từ nhiều đời trước.
Năm
1983, ông vượt biên và ở trại tị nạn Pulau
Bidong, Malaysiahơn một năm, sau đó định
cư tại thành phố Los Angeles, bang California. Trong
thời gian ở đây, việc nghe những băng
nhạc thu âm cũ từ quê nhà qua hai
giọng ca Chế Linh và Duy Khánh đă ảnh hưởng
nhiều tới sự nghiệp sau này của ông. Sau đó,
ông có ghi danh học trung học phổ thông nhưng đă
bỏ ngang v́ quá đam mê ca hát.
Vào
một dịp t́nh cờ, ca sĩ Chung Tử Lưu nghe
được ông hát và đă mời ông về cộng tác
với trung tâm Phượng Hoàng và trung tâm Ca Dao. Thời
gian đầu việc thu âm rất khó
khăn v́ ngôn ngữ thường dùng trong việc giao
tiếp hàng ngày của ông là tiếng Triều Châu và
tiếng Quảng Đông. Đối với tiếng
Việt ông chỉ hiểu những từ đơn
giản. Qua lời tâm sự của ông th́ người
giải thích những bài hát ông chuẩn bị thu âm và
hướng dẫn ông trong việc phát âm tiếng Việt
đó là người bạn gái tên Anh Thư. Ngoài ra bà
cũng là người đă khuyến khích và ủng hộ
ông đi theo con đường ca hát. Trong thời gian
chập chững vào nghề, ông đă theo học với ca
nhạc sĩ Duy Khánh trong 5 năm, được Duy Khánh
hướng dẫn về phần nhạc lư và phát âm. Ngoài
ra ông c̣n được nam ca sĩ Chế Linh nhận làm
học tṛ, hướng dẫn ông trong việc giữ
hơi và luyến láy.
Từ
đó đến nay, ông đă cộng tác với nhiều
trung tâm sản xuất phát hành nhạc lớn ở hải
ngoại như Trung tâm Ca Dao, Trung tâm Phượng Hoàng, Trung
tâm T́nh, Trung tâm Asia, Trung tâm Vân Sơn, Trung tâm Thúy Nga và
xuất hiện trên nhiều băng nhạc, CD, DVD của
các trung tâm này.
Ở
Trung tâm Vân Sơn, ông thường được ghép
tiết mục song ca cùng Tâm Đoan. Ngoài ra, ông c̣n tŕnh bày
các sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Nghĩa như
"Mộng tha hương", "Xót xa t́nh
đời", "Hạnh phúc thương đau",
"Dừng bước", "Bần".
Ở
Trung tâm Thúy Nga, ông thường được ghép tiết
mục song ca cùng Như Quỳnh. Cặp đôi có khá
nhiều bài được khán giả yêu thích như
"Nhớ người yêu", "Không giờ
rồi", "Phố đêm"...
Ông
đặc biệt nổi tiếng với những ca khúc
nhạc vàng mang chủ đề nghèo hoặc thất t́nh
như "Nghèo", "Đám cưới nghèo",
"Thân phận nghèo", "Nghèo mà có t́nh", "Xua
đi huyền thoại", "Không giờ rồi",
"Tí Ngọ của tôi"... và nhạc lính về Quân
lực Việt Nam Cộng ḥa như "Rừng lá
thấp", "Bông cỏ may", "Thư cho vợ
hiền", "Ba tháng quân trường", "Mưa
đêm tỉnh nhỏ”.
-Quang Lập

Quang Lập (tên thật: Diệp Văn
Lập) là một ca sĩ nổi tiếng trong ḍng nhạc
Bolero Việt Nam, sở hữu giọng hát trầm ấm,
sâu lắng và đầy cảm xúc, thường
được khán giả mô tả là “độc lạ,
càng nghe càng say”. Anh sinh ngày 19 tháng 6 năm 1978 tại An Giang,
Việt Nam, và hiện đang sống và hoạt
động tại TP.Sài G̣n. Là con lai Mỹ - Việt, Quang
Lập lớn lên trong hoàn cảnh gia đ́nh nghèo khó, cùng
mẹ bươn chải đủ nghề từ nhỏ.
Dù đam mê nghệ thuật từ bé, nhưng những
biến cố cuộc đời khiến anh không thể theo đuổi ngay ước mơ ca hát.
Sự nghiệp âm nhạc
• Khởi đầu và phong cách: Quang
Lập bắt đầu nổi tiếng từ những
năm 2010 với các ca khúc trữ t́nh, nhạc vàng xưa.
Phong cách biểu diễn giản dị nhưng cuốn hút,
thường mặc vest hoặc áo sơ mi đơn
giản, giúp anh nhanh chóng chiếm được t́nh
cảm của khán giả yêu Bolero. Anh là đại diện
tiêu biểu của Trung tâm Giọng Ca Để Đời
(BHMedia Corp.), nơi anh không chỉ hát mà c̣n sáng lập và
quản lư.
• Thành tựu nổi bật:
• Thành viên chủ chốt của nhóm
Bolero Quang Lập.
• Kênh YouTube Quang Lập Official (ra
mắt 2015) có hơn 3 triệu lượt đăng kư,
chuyên sản xuất MV quay tại không gian ấm cúng ở
Quận 1, TP. HCM, giống như một pḥng trà nhỏ.
• Kênh Pḥng Trà Quang Lập trên YouTube
tập trung vào các buổi biểu diễn acoustic, thư giăn.
• Kênh Giọng Ca Để Đời
(hơn 3 triệu sub) quy tụ các ca sĩ trẻ hát
nhạc xưa, với Quang Lập là trụ cột.
• Các bài hát nổi tiếng: Anh
thường song ca với các nghệ sĩ như Thu
Hường, Thúy Hà, Phi Thanh. Một số hit bao gồm:
• Cát bụi cuộc đời, Đắp
mộ cuộc t́nh.
• Gió Về Miền Xuôi (song
ca với Thu Hường).
• Các album/EP: Nhạc Lính Quang
Lập (2023), Mùa Xuân Của Mẹ (2024), Bài
Ca Tết Cho Em (2025)
-Quang Lê

Quang Lê tên thật là Lê Hữu Nghị (sinh ngày 24 tháng 1 năm 1979
tại Huế)
trong gia đ́nh gồm 6 anh em
và một người chị nuôi, Quang Lê là con thứ 3.Cha
Quang Lê là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng
ḥa, đă xuất ngũ trước đó. Vào năm 7
tuổi, Quang Lê cùng gia đ́nh vào Sài G̣n để chờ
lịch phỏng vấn xuất ngoại theo gia đ́nh sang
định cư tại bang Missouri, Mỹ. V́ thời
tiết ở Missouri khá khắc nghiệt nên gia đ́nh Quang
Lê đă chuyển đến sống ở thành phố Los
Angeles thuộc tiểu bang California.
Say mê ca
hát từ nhỏ và niềm say mê đó đă cho Quang Lê
những cơ hội để đi đến con
đường ca hát. Quang Lê được đi hát ở
các chùa ngay từ khi anh 5 tuổi. Quang Lê được cha
mẹ cho theo học nhạc từ
năm lớp 9 đến năm thứ hai của
đại học khi gia đ́nh chuyển sang sống ở
California. Quang Lê cũng từng thu âm và
gửi đi các trung tâm với niềm hy vọng nhưng
thư gửi đi và không thấy hồi âm khiến anh
cảm thấy khá thất vọng. Rồi một tia hy
vọng xuất hiện, nhờ sự giới thiệu
của nghệ sĩ Ngọc Phu, anh tham gia cuộc thi t́m
kiếm giọng ca vàng có tên là "Gold Singer" do ông
tổ chức ở Mỹ và đoạt giải. Anh
cộng tác với Trung tâm Ca Dao 2 năm nhưng sự
nghiệp của anh vẫn chưa có khởi sắc.
Và
rồi may mắn cũng mỉm cười
với
anh khi những bài hát của anh được ca sĩ Chung
Tử Lưu thu âm ở Trung tâm Ca Dao đă t́nh cờ
đến được với ông Tô Văn Lai - giám
đốc trung tâm Thúy Nga và Quang Lê đă có cơ hội
đứng trên sân khấu Thúy Nga với sự xuất
hiện đầu tiên trong cuốn Paris By Night 66 với ca
khúc Thư Xuân Trên Rừng Cao. Anh tạo nên ấn
tượng sâu sắc với khán giả qua dáng vẻ thư sinh cùng giọng hát ngọt ngào,
trầm ấm và giàu t́nh cảm đậm chất Huế.
Anh được trung tâm phát hành liên tiếp các solo album và
đều tạo được tiếng vang lớn.
Những ca khúc tiêu biểu của anh có thể kể
đến như: Sương Trắng Miền Quê
Ngoại, Cô Hàng Xóm, Đập Vỡ Cây Đàn,
Đường Về Quê Hương, Đôi Mắt
Người Xưa,... Đặc biệt nhất là
ca khúc Sương Trắng Miền Quê Ngoại đánh
dấu tên tuổi của Quang Lê tại hải ngoại mà
anh tŕnh bày trong cuốn Paris By Night 69. Mặc dù ca khúc này trước đây từng
được ca sĩ Duy Khánh thể hiện rất thành
công nhưng theo như lời MC Nguyễn Ngọc Ngạn,
Quang Lê đă làm sống lại ca khúc này và trong một
lần t́nh cờ gặp nhạc sĩ Đinh Miên Vũ khi
lưu diễn ở miền Nam California, anh đă
được ông trao cho sáng tác mới nhất của ḿnh
sau 37 năm đó là ca khúc Hai Quê mà Quang Lê
đă thể hiện lần đầu tiên trên Paris By Night
89 in Korea. Ngoài ra anh là người được trao
bài hát Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu do
nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác vốn dành cho cố ca
nhạc sĩ Duy Khánh trong Paris By Night 76
nhưng ông đă qua đời trước đó.
Anh là
một trong những ca sĩ hải ngoại nổi
tiếng rất nhanh và có cơ hội được song
ca với rất nhiều nữ ca sĩ khác ở Trung tâm
Thúy Nga như Ngọc Hạ, Hà Phương, Hương
Thủy, Như Quỳnh và đặc biệt là nữ ca
sĩ Mai Thiên Vân. Hai người đă trở thành một
cặp song ca rất ăn ư với nhau
sau hai ca khúc Nước Non Ngàn Dặm Ra Đivà Gơ
Cửa Trái Tim. Cả hai đă ra mắt 2 CD song ca chung với nhau: Đôi mắt người
xưa (2009) và Phải ḷng con gái Bến Tre (2011). Đă
từng có tin đồn rằng Quang Lê và Mai Thiên Vân là
vợ chồng với nhau v́ Quang Lê từng chia sẻ trên
Paris By Night 98 là sẽ gom tiền về
Bến Tre cưới vợ nếu CD Đôi mắt
người xưa bán chạy. Nhưng Quang Lê và Mai Thiên Vân
đều phủ nhận tin đồn này v́ họ đă
xác nhận họ chỉ là một đôi t́nh nhân trên sân
khấu và là một đôi bạn rất thân thiết ngoài
cuộc sống.
-Ngọc Ngữ

Ngọc
Ngữ sinh ngày 5 tháng 12 năm 1986 tại Việt Nam. Anh cùng
gia đ́nh qua Mỹ từ năm 9 tuổi và đă từng
sống tại tiểu bang Washington trước khi
chuyển sang sống ở tiểu bang California. Chính v́ qua
Mỹ từ năm 9 tuổi nên anh nói tiếng Việt
không rành bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng anh cũng
hay trộn lẫn cả hai thứ tiếng với nhau khi
nói chuyện, đồng thời có khả năng suy
nghĩ bằng tiếng Anh và có lối sống đậm
văn hóa Hoa Kỳ.
Trước
năm 2012, Ngọc Ngữ từng theo
học nhạc với nhạc sĩ Nhật Ngân trong ṿng
hai năm rưỡi sau khi dọn từ Seattle về
California. Hiện tại anh vẫn sống tại đây.
Anh cũng may mắn có một lần được
gặp nhạc sĩ Trần Trịnh trước khi ông
qua đời chín tháng sau ngày mất của nhạc sĩ
Nhật Ngân. Hai năm sau ngày Nhật Ngân trút hơi thở
cuối cùng, Ngọc Ngữ đă thắng giải People's
Choice Award trong cuộc thi V-Star mùa 3 cùng với Hoàng Nhung
(Judge's Choice Award).
Hiện
anh đang là nhân viên bảo tŕ máy móc, dụng cụ y
tế trong bệnh viện.
Ngọc
Ngữ là ca sĩ độc quyền của trung tâm Thúy
Nga, được xem là người tiếp nối các ḍng
nhạc của các bậc đàn anh như Duy Khánh, Giang
Tử, Chế Linh, Tuấn Vũ. Anh thường song ca
với nữ ca sĩ Châu Ngọc Hà.
Ngày 25
tháng 3 năm 2023, Ngọc Ngữ và Châu Ngọc Hà đă
tổ chức kết hôn sau một thời gian dài quen
biết nhau, và đám cưới được tổ
chức tại Tây Ninh.
Huỳnh Công Ân
8/1/2026